Insulin là gì ?

Insulin (từ tiếng Latin , insula nghĩa là đảo) là một hormone peptide được sản xuất bởi các tế bào beta của đảo tụy . Các protein insulin người gồm 51 axit amin và có khối lượng phân tử của 5800 Daton . Gồm 2 chuối, chuỗi A có 21 acid amin và chuỗi B có 30 acid amin nối với nhau bằng 2 cầu nối di-sulfit.

Insulin kiểm soát trao đổi chất của carbohydrat (đường) . Ngoài ra hormone Insulin còn tác dụng đến chuyển hóa mô mỡ và gan thành năng lượng ATP cung cấp cho các hoạt động sống của cơ thể.

Insulin là gì ?
Vai trò sinh lí của insulin

Vai trò quan trọng nhất là giúp hạ đường huyết: Khi nồng độ glucose trong máu tăng cao (sau khi ăn, uống đồ uống có nhiều đường, truyền glucose v.v.), glucose sẽ được dự trữ trong gan dưới dạng glycogen. Khi hàm lượng đường trong máu giảm ( khi đói, giữa hai bữa ăn), glycogen sẽ biến đổi trở lại thành glucose để đi vào máu giữ cho lượng đường trong máu (gọi tắt là đường huyết) không hạ quá thấp.

Insulin tác động đến quá trình này như sau:

+ Insulin ức chế phosphorylase, một enzyme biến đổi glycogen thành glucose

+ Insulin làm tăng cường hấp thu glucose của các tế bào gan thông qua tác động của enzyme glucokinase (enzyme này tăng cường phosphoryl hoá giữ glucose không qua được màng tế bào để đi ra ngoài).

+ Tăng cường hoạt tính của enzyme tổng hợp glycogen bao gồm phosphofructokinase dẫn đến giai đoạn hai của quá trình phosphoryl hoá phân tử glucose và glucose synthetase có tác dụng tạo chuỗi từ các monosaccharide để hình thành phân tử glycogen.

Các tác động này làm tăng lượng glycogen dự trữ trong gan (có thể chiếm 5-6% khối lượng của gan hay khoảng 100gram glycoge

Tế bào beta tuyến tụy (tế bào β) được biết đến là nhạy cảm với nồng độ glucose trong máu. Khi nồng độ glucose trong máu cao, các tế bào β tụy tiết ra insulin vào máu; khi nồng độ glucose thấp, tiết insulin bị ức chế, các tế bào alpha lân cận bằng cách lấy tín hiệu từ các tế bào beta, tiết glucagon vào máu theo cách ngược lại: tăng tiết khi đường huyết thấp, và giảm tiết khi nồng độ glucose cao. Glucagon , thông qua việc kích thích gan để giải phóng glucose glycogenolysis và gluconeogenesis , có tác dụng ngược của insulin. Sự tiết insulin và glucagon vào máu để đáp ứng với nồng độ glucose trong máu là cơ chế chính chịu trách nhiệm giữ cho lượng đường trong dịch ngoại bào trong giới hạn rất hẹp ở phần còn lại, sau bữa ăn, và trong thời gian tập thể dục và đói.

Nếu các tế bào beta tuyến tụy bị phá hủy bởi một phản ứng tự miễn dịch , insulin không còn có thể được tổng hợp hoặc được tiết vào máu. Điều này dẫn đến đái tháo đường type 1 , được đặc trưng bởi nồng độ đường trong máu cao bất thường.

Trong bệnh tiểu đường type 2 việc phá hủy tế bào beta là ít rõ rệt hơn trong bệnh tiểu đường type 1, và không phải là do một quá trình tự miễn. Thay vào đó là sự tích tụ của amyloid trong đảo tụy, mà phá vỡ giải phẫu và sinh lý của họ. Đái tháo đường type 2 được đặc trưng bởi tỷ lệ cao của tiết glucagon vào máu mà không bị ảnh hưởng và không đáp ứng với nồng độ glucose trong đường huyết cao. Insulin vẫn được tiết vào máu để đáp ứng với glucose máu.

Như vậy, nồng độ insulin, ngay cả khi mức độ đường trong máu là bình thường, cao hơn nhiều so với những người khỏe mạnh. Khi khả năng của tuyến tụy tiết ra insulin không còn giữ cho mức đường huyết trong giới hạn bình thường, thì người bệnh đều phải tiêm insulin.

Chính vì vậy hiện nay Insulin được sử dụng như một loại thuốc – liệu pháp để điều trị đường huyết cao (đái tháo đường).